Cài plugin đầu tiên của bạn
Thêm một plugin vào profile dsh, xác nhận layer đã thực sự được áp, và gỡ nó sạch sẽ.
Mỗi mục trên trang này đều có sẵn một lệnh cài để copy. Lệnh đó cài vào một profile — một tổ hợp bundle chạy được.
dsh plugin --profile demo add <package-name>
Bỏ --profile để dùng profile mặc định. Lần cài đầu tiên sẽ khởi tạo profile với
@deepseek-ai/dsh-base làm bundle đầu tiên.
Xác nhận layer đã áp
Cài được package và kích hoạt được layer của nó là hai chuyện khác nhau. Hãy kiểm tra trước khi khởi động:
dsh --profile demo --dump-config
Bạn phải thấy một layer # == <package-name> trong kết quả. Nếu không có, package
đã được cài như một dependency thường — nó không có manifest dsh.bundle và không
đóng góp cấu hình nào cả.
Gỡ plugin
dsh plugin --profile demo remove <package-name>
Lệnh này gỡ cả dependency lẫn layer.
Các layer xếp chồng lên nhau thế nào
Một profile là một danh sách bundle có thứ tự. Khi khởi động, harness áp layer
patch của từng bundle theo đúng thứ tự đó — @deepseek-ai/dsh-base trước tiên,
rồi đến các bundle theo thứ tự bạn cài chúng. Khi hai layer chạm vào cùng một dòng
plugin, layer nào áp sau sẽ thắng, và nó thay thế toàn bộ cấu hình của dòng đó thay
vì trộn vào. Đó là cách các plugin vá cùng một seam vẫn kết hợp được với nhau:
plugin được liệt kê sau trong profile có tiếng nói cuối cùng.
File patch đã ghép
CLI tích luỹ các patch của một profile vào $DSH_HOME/cordis.patch.yml, file mà
harness đọc khi profile khởi động. Hãy coi file đó là trạng thái được sinh ra, như
một lockfile: để các lệnh tự cập nhật nó, và đừng sửa tay.
Overlay --patch tạm thời
Bên trên profile, bạn có thể thêm các overlay bổ sung lúc khởi động bằng cờ
--patch, mỗi cờ trỏ tới một file patch khác. Overlay được áp cuối cùng, nên
chúng ghi đè mọi thứ trong profile, và chúng không bao giờ sửa chính profile — bỏ
cờ đi là profile khởi động y như trước. Dùng chúng cho các thử nghiệm hoặc các
chỉnh một lần mà bạn không muốn giữ lại.
Cập nhật lần cuối 2026-08-22